Lý luận khoa học về nhà nước, về nguồn gốc và bản chất của nhà nước chỉ có thể có được khi vận dụng quan điểm duy vật về lịch sử vào việc nghiên cứu sự phát triển xã hội. Quan điểm duy vật lịch sử cũng chứng minh tính tất yếu của nền chuyên chính vô sản (nhà nước xã hội chủ nghĩa).

1. Nguồn gốc của nhà nước

Nguyên nhân trực tiếp của sự xuất hiện nhà nước là những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Về nguồn gốc của nhà nước, V. I. Lênin đã khẳng định:

“Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện. Và ngược lại: Sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được.”

Trong nhiều tác phẩm của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã chứng minh rằng không phải cứ có xã hội là có nhà nước.

– Trong xã hội cộng sản nguyên thủy không có nhà nước.

Phù hợp với tình trạng kinh tế còn thấp kém, chưa có sự phân hóa giai cấp, tổ chức đầu tiên của xã hội trong xã hội cộng sản nguyên thủy là thị tộc, bộ lạc. Đứng đầu các thị tộc, bộ lạc là những tộc trưởng do người dân bầu ra. Quyền lực của người đứng đầu những cơ quan quản lý xã hội thị tộc, bộ lạc dựa vào đạo đức, uy tín. Quyền hành và chức năng của cơ quan lãnh đạo trong thời kỳ đó chưa mang tính chính trị.

Như vậy, thể chế xã hội trong thời kỳ cộng sản nguyên thủy là thể chế tự quản của nhân dân. Mặc dù nhà nước chưa ra đời, xã hội vẫn tồn tại trong vòng trật tự.

– Do sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự ra đời của chế độ tư hữu và phân chia xã hội thành giai cấp, chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã.

Sự tan rã đó dẫn tới sự ra đời của nhà nước là do:

+ Một là:

Sự phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động, đã cho phép có thể tiến hành sản xuất tương đối độc lập theo nhóm nhỏ hay đơn vị gia đình. Sở hữu chung trở thành vật cản đối với sự phát triển sản xuất.

Hơn nữa, với công cụ sản xuất đó, người ta có thể sản xuất ra một lượng sản phẩm tiêu dùng nhiều hơn nhu cầu tối thiểu để tồn tại. Đó là cơ sở khách quan để những người có chức, có quyền trong công xã nảy sinh ham muốn chiếm đoạt sản phẩm lao động dư thừa của người khác.

+ Hai là:

Sự dư thừa tương đối sản phẩm tiêu dùng và ham muốn chiếm đoạt nó đã làm nảy sinh ở giới có chức, có quyền thói hám của. Họ sử dụng mọi quyền lực có trong tay để thực hiện khát vọng này.

Đó là nguyên nhân thúc đẩy phân hóa xã hội, làm cho xã hội xuất hiện giai cấp. Sự đối kháng giữa giai cấp thống trị và bị trị ngày càng sâu sắc.

+ Ba là:

Chiến tranh ăn cướp giữa các bộ lạc, thị tộc làm cho quyền lực của thủ lĩnh quân sự được củng cố và tăng cường. Cùng với sự ra đời của chế độ phụ quyền, người trong một gia đình được quyền thừa kế chức thủ lĩnh quân sự, làm cho họ ngày càng giàu có về của cải.

Với địa vị thống trị ngày càng mở rộng, họ bóc lột nhân dân ngày càng thậm tệ. Họ trở thành lực lượng đối lập với nhân dân.

+ Bốn là:

Cơ quan tổ chức của thị tộc, bộ lạc dần dần thoát khỏi gốc rễ của nó trong nhân dân. Từ chỗ là công cụ của nhân dân, các tổ chức đó trở thành cơ quan đối lập, thống trị và áp bức nhân dân. Cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp đối kháng lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử xã hội (giữa chủ nô và nô lệ) dẫn tới nguy cơ chẳng những các giai cấp đó tiêu diệt lẫn nhau mà còn tiêu diệt luôn cả xã hội.

Để thảm họa đó không diễn ra, một cơ quan quyền lực đặc biệt ra đời. Đó là nhà nước.

– Như vậy, sự ra đời của nhà nước chứng tỏ rằng nhà nước không phải là cơ quan điều hòa mâu thuẫn giai cấp. Ngược lại, nó xuất hiện là do mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc, không thể điều hòa.

Giai cấp bóc lột không thể duy trì địa vị bóc lột nếu không dựa vào bộ máy bạo lực àm bộ phận chủ yếu của nó là những đội vũ trang đặc biệt dùng để trấn áp giai cấp bị bóc lột. Trong điều kiện đấu tranh giai cấp đã trở nên gay gắt, chế độ nhân dân tự tổ chức thành lực lượng vũ trang không còn thích hợp. Nó phải được thay thế bằng thiết chế nhà nước.

2. Bản chất của nhà nước (hay nhà nước là gì?)

– Nếu không có nhà nước – một tổ chức bạo lực chuyên được dùng để trấn áp – thì giai cấp thống trị không thể duy trì được ách áp bức, bóc lột của mình đối với giai cấp bị trị. Như thế, sự ra đời của nhà nước là một tất yếu khách quan để “làm dịu” sự xung đột giai cấp, để cho xung đột ấy diễn ra trong vòng “trật tự” nhằm duy trì chế độ kinh tế, trong đó giai cấp này được bóc lột giai cấp khác.

– Đương nhiên, trên cơ sở của tính tất yếu nói trên, lực lượng lập ra và sử dụng bộ máy nhà nước phải là giai cấp có thế lực nhất. Đó là giai cấp thống trị về mặt kinh tế.

Nói cách khác: Nhà nước là tổ chức chính trị của giai cấp thống trị về kinh tế nhằm bảo vệ trật tự hiện hành và đàn áp sự phản kháng của các giai cấp khác.

Nhờ có nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế cũng sẽ trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị, và do đó có thêm những phương thức mới để đàn áp và bóc lột các giai cấp bị áp bức.

– Tóm lại: Bản chất của nhà nước là nền chuyên chính của giai cấp này đối với giai cấp khác và đối với toàn xã hội.

“Chuyên chính” ở đây nghĩa là “dùng bạo lực để trấn áp” những hành vi bất tuân.

Nói một cách dễ hiểu: Về bản chất, nhà nước là công cụ bạo lực của giai cấp thống trị nhằm áp bức giai cấp bị trị và toàn xã hội.

nha-nuoc-2
Nhà nước là công cụ bạo lực của giai cấp này để đàn áp giai cấp khác. Ảnh minh họa: Wikipedia.

Ví dụ:

+ Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, bản chất của nhà nước là công cụ bạo lực của giai cấp chủ nô nhằm áp bức nô lệ.

+ Trong xã hội phong kiến, bản chất của nhà nước là bộ máy bạo lực của giai cấp phong kiến nhằm thống trị nông nô và toàn thể xã hội.

+ Nhà nước của giai cấp tư sản có bản chất là công cụ trấn áp của tư sản đối với giai cấp vô sản…

– Tuy nhiên, cũng có trường hợp nhà nước giữ được một mức độ độc lập nào đó đối với cả hai giai cấp đối diện. Đó là khi cuộc đấu tranh giai cấp đạt tới thế cân bằng nhất định, hoặc khi nhà nước là sản phẩm của sự thỏa hiệp về quyền lợi tạm thời giữa một số giai cấp để chống lại một giai cấp khác.

Những trường hợp đó chỉ là ngoại lệ và có tính tạm thời.

Sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung và cuộc đấu tranh giai cấp nói riêng sẽ phá vỡ thế cân bằng giữa các giai cấp thù địch nhau. Khi đó, quyền lực nhà nước sẽ được tập trung vào một giai cấp.

Thực tế lịch sử mang lại nhiều bằng chứng nói lên rằng, dù được che giấu dưới hình thức tinh vi như thế nào, dù có bị khúc xạ qua những lăng kính phức tạp ra sao, nhà nước trong mọi xã hội có giai cấp đối kháng cũng chỉ là công cụ bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị, cũng chỉ là một bộ máy trấn áp của một giai cấp này đối với một giai cấp khác.

3. Tính tất yếu và đặc điểm của nền chuyên chính vô sản 

C. Mác khẳng định: Giai cấp công nhân và nhân dân lao động muốn xóa bỏ tình trạng người bóc lột người và mọi sự tha hóa do chế độ chiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất sinh ra, trước hết họ phải chiếm lấy chính quyền, thực hiện chuyên chính của giai cấp công nhân.

Về vấn đề này, V. I. Lênin cũng nhấn mạnh: Chuyên chính của một giai cấp là tất yếu không những cho mọi xã hội có giai cấp nói chung, không những cho giai cấp vô sản sau khi đã lật đổ giai cấp tư sản, mà còn cho suốt cả thời kỳ lịch sử từ chế độ tư bản chủ nghĩa đến “xã hội không có giai cấp”, đến chế độ cộng sản chủ nghĩa…

3.1. Tính tất yếu, sự cần thiết xác lập nền chuyên chính vô sản thể hiện ở những điểm chính sau:

– Một là:

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xã hội còn tồn tại các giai cấp bóc lột và các lực lượng xã hội. Chúng không từ thủ đoạn nào để chống lại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên giai cấp công nhân và nhân dân lao động không còn cách nào khác ngoài việc phải trấn áp trở lại bằng bạo lực.

Hơn nữa, trong thời kỳ quá độ còn có các giai cấp, tầng lớp trung gian khác. Do lợi ích, địa vị kinh tế – xã hội của mình, họ dễ dao động giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, họ không thể tự mình tiến lên chủ nghĩa xã hội. Do đó, chuyên chính vô sản là thiết chế cần thiết, tất yếu để thu hút đông đảo lực lượng, bảo đảm sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với toàn xã hội.

– Hai là:

Trước thực tiễn của cách mạng xã hội, chuyên chính vô sản là phương thức, phương tiện, là hình thức để bảo vệ sự thống trị về chính trị của giai cấp công nhân. Bởi trong lịch sử nhân loại chưa bao giờ có một giai cấp bị áp bức nào đạt được địa vị thống trị mà lại không giành lấy chính quyền và không dùng bạo lực để đè bẹp sự kháng cự tuyệt vọng nhất, điên cuồng nhất, chẳng từ một tội ác nào của thế lực bị lật đổ.

Do đó, giai cấp vô sản sau khi giành chính quyền thì phải nắm vững công cụ chuyên chính, kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng đã đạt được.

– Ba là:

Sau khi giành chính quyền, giai cấp vô sản phải xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội để tạo tiền đề vật chất xã hội có tính quyết định giúp người dân lao động củng cố được quyền lực đang nắm trong tay, bảo đảm để nhân dân lao động thực sự làm chủ xã hội. Đồng thời, phải phát triển và không ngừng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy tính tích cực của nhân dân lao động.

Những yêu cầu đó tất yếu đòi hỏi sự xác lập và củng cố không ngừng nền chuyên chính vô sản.

Trong khi nhấn mạnh sự cần thiết của bạo lực cách mạng, của trấn áp, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn xem mặt xây dựng, tổ chức là chức năng cơ bản nhất của chuyên chính vô sản. Mặt cơ bản của nhà nước vô sản là tổ chức, xây dựng toàn diện xã hội mới.

Để thực hiện sứ mệnh của mình, giai cấp công nhân cần có sự hỗ trợ, cộng tác, liên minh vững chắc và bền vững với những người lao động khác. Chuyên chính vô sản là một loại liên minh đặc biệt giữa giai cấp công nhân với quần chúng lao động không vô sản, bảo đảm nền dân chủ toàn diện trong xã hội, lấy dân chủ trên lĩnh vực kinh tế làm cơ sở.

– Bốn là:

Giai cấp công nhân không chỉ có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc mình, mà còn có vai trò lịch sử toàn thế giới. Do vậy, chuyên chính vô sản còn phải làm nghĩa vụ quốc tế, bằng việc giúp đỡ từ mọi phương diện có thể được cho cuộc đấu tranh của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Trong quá trình đó, nhà nước vô sản đồng thời không ngừng giao lưu quốc tế, tiếp thu và vận dụng những giá trị của văn minh nhân loại để phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo đảm hành phúc của nhân dân.

3.2. Những đặc điểm cơ bản của nền chuyên chính vô sản (nhà nước xã hội chủ nghĩa):

– Thứ nhất: Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân và vì dân, là tổ chức hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân do đảng cộng sản lãnh đạo. Đây là đặc điểm chủ yếu nhất của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

– Thứ hai: Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là một bộ máy chính trị – hành chính, một cơ quan cưỡng chế, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân lao động. Đó là sự kết hợp giữa hai chức năng trấn áp và tổ chức xây dựng, trong đó tổ chức, xây dựng là mặt chủ yếu.

– Thứ tư: Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức thông qua đó, đảng của giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo đối với tiến trình phát triển xã hội. Sự lãnh đạo của đảng cộng sản quyết định bản chất giai cấp công nhân của bộ máy nhà nước, là điều kiện quyết định để bảo đảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, bảo đảm nhà nước của dân, do dân và vì dân.

– Thứ năm: Nhà nước xã hội có sự thống nhất giữa tính chất dân tộc và tính chất quốc tế.

Những đặc điểm trên cho thấy nhà nước xã hội chủ nghĩa là một nhà nước kiểu mới.

Về hình thức, nhà nước vô sản có thể tồn tại dưới các hình thức khác nhau như công xã (ví dụ là Công xã Pa-ri năm 1871), Xô-viết, nhà nước dân chủ nhân dân…

Đó là kiểu nhà nước đặc biệt, “nhà nước không còn nguyên nghĩa”, là nhà nước “nửa nhà nước”. Sau khi những cơ sở kinh tế, xã hội của sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước mất đi thì nhà nước sẽ không còn. Sự mất đi của nhà nước vô sản là một quá trình “tự tiêu vong” rất lâu dài, chứ không phải bằng phương pháp “thủ tiêu”, “xóa bỏ”.

4. Liên hệ với Nhà nước Việt Nam hiện nay

– Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cột trụ của hệ thống chính trị, là công cụ thực hiện quyền lực của nhân dân, là tổ chức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà nước quản lý mọi mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật, quản lý kinh tế bằng chính sách, kế hoạch, những đòn bẩy kinh tế và các công cụ điều tiết khác.

– Ở Việt Nam hiện nay, nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà nước ấy do nhân dân lập ra và thông qua tổng tuyển cử toàn dân, được đặt dưới sự kiểm soát của nhân dân.

Mọi quyền lực mà Nhà nước có được đều do nhân dân ủy quyền. Mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân. Nó kiên quyết đập tan mọi mưu đồ, hành động đi ngược lại ý chí của nhân dân.

– Trong tổ chức và hoạt động của mình, quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, tư pháp và hành pháp.

Tổ chức, hoạt động của nhà nước thực hiện nguyên tắc dân chủ tập trung. Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất tổ chức và hành động, phát huy đồng bộ và kết hợp chặt chẽ sức mạnh của cả cộng đồng và từng cá nhân, của cả nước và từng địa phương, của cả hệ thống bộ máy và từng yếu tố cấu thành. Dân chủ tập trung đối lập với tập trung quan liêu cũng như phân tán, cục bộ.

– Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có sự thống nhất hữu cơ giữa chức năng giai cấp và chức năng xã hội trong tổ chức, hoạt động của mình.

 Càng đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, nhà nước càng có khả năng phát hiện, nhận thức và giải quyết có hiệu quả những vấn đề liên quan tới chức năng xã hội. Ngược lại, việc thực hiện chức năng xã hội sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng giai cấp.

– Để nhà nước ta thực sự là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, chúng ta phải thực hiện đồng bộ một loạt những nhiệm vụ, trong đó các nhiệm vụ trọng tâm, then chốt là:

+ Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác lập pháp và giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; cải cách nền hành chính, bao gồm cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp.

+ Chúng ta cũng phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, bệnh quan liêu trong bộ máy – một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự sống còn của hệ thống chính trị nói chung, của nhà nước nói riêng. Mặt khác, cũng cần phải kết hợp những biện pháp cấp bách với những giải pháp có tầm chiến lược nhằm vừa hoàn thiện cơ chế chính sách, kiện toàn tổ chức, chấn chỉnh công tác quản lý, khắc phục sơ hở, vừa xử lý nghiêm, kịp thời mọi sai phạm.

 

Xin mời các bạn để lại một vài comment để Ban biên tập bọn mình có thêm định hướng nhé! (ngắn thôi cũng được, kiểu như: “Bài viết còn sơ sài!”, hay “Cũng đủ ý!”. :-D).

Nếu còn điều gì chưa rõ, bạn hãy để lại câu hỏi ở phần comment để bọn mình có thể giải đáp khi thời gian cho phép nhé!

 

Bài liên quan:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *